Life, SAP, Consulting, Programming, Coding, ASP.NET, Sharepoint, MVC, Javascript, PHP, WebDesign, CSS, HTML

SAP Case Study: Nestle USA

SAP Case Study

Mình đã chuyển sang SAP. Vì thế từ nay, những bài viết của mình sẽ tập trung vào ERP và SAP. Nhiều kiến thức liên quan đến kinh tế hơn.

Một tuần làm việc rồi nhưng vẫn chưa có máy. Chưa biết SAP là gì. Chưa được đụng vào bộ cài của nó. Chỉ mong đọc những thứ “vớ vẩn” liên quan đến SAP mà thôi. Bài đầu tiên trong loạt bài của mình là nghiên cứu tình huống ứng dụng SAP ở NESTLE USA. Dịch từ một tài liệu trên mạng:

Một ví dụ điển hình của một công ty từng dung các gói ERP để nhận biết quy trình hoạt động (Business Processes) của họ là một chi nhánh tại US của Nestle SA, tập đoàn thực phẩm Thụy Sỹ. Nestle USA hình thành từ cuối những năm 80 đầu những năm 90 thông qua chuyển nhượng thương mại. Năm 2002, nó đã có 7 bộ phận cùng bán các sản phẩm nổi bật như Alpo, Baby Ruth, Carnation Instant Breakfast, Coffe-Mate, Nescafe, Nestle Toll House, PowerBar, Stouffer’s Lean Cuisine, SweeTarts Taster’s Choice. Nhân lực công ty lên đến con số 16.000 người và doanh số lên đến 8 tỉ USD.

Giữa thế kỷ 19, vì có nhiều công ty nên Nestle SA phải hoạt động như là các đơn vị độc lập. Đến năm 1997, một nhóm nghiên cứu của công ty của Nestle SA kết luận rằng các công ty con trả đến 29 giá khác nhau cho hương liệu Vani(vanilla) – mua từ cùng một nhà cung ứng. Nghiên cứu đó không phải đẽ dàng, mỗi công ty con đều dung một cái tên hay con số khác nhau cho hương liệu Vani, mua bán nó thông qua các quy trình hoàn toàn khác nhau. Nhưng sau nghiên cứu đó, chỉ có một nỗ lực đáng kể nhất là quyết định thành lập môt giá đơn vị chung cho loại hương liệu Vani, và cũng chỉ có Vani mà thôi.

Năm 1997, Nestle USA quyết định sẽ chuẩn hóa tất cả hệ thống phần mềm trong các bộ phận. Một nhóm những người có trách nhiệm được lập ra để quản lý toàn bộ quá trình. Đến tháng 3 năm 1988, nhóm đã có được bản kế hoạch. Nhóm quyết định sẽ chuẩn hóa 5 modules – Purchasing, Financials, Sales & Distribution, Account Receivable và Account Payable. Thêm vào đó, nhóm chuyên trách đã quyết dịnh sử dụng module Supply Chain của Manugistics. Module SC của SAP(Advance Planner and Optimizer or APO) cũng được nhóm cân nhắc, nhưng nó là một cái tên mới vào năm 1997, vì thế nhóm đã chọn lựa sản phẩm lâu đời hơn là Manugistics, một sản phẩm được thiết kế để làm việc với các module của SAP.

Trước khi cài đặt và sử dụng các modules của SAP, mọi người đã mất tới 18 tháng để tập hợp và kiểm tra lại các dữ liệu về tên, cuối cùng đưa ra một tập tên thống nhất. Ví dụ, Vani được thống nhất dùng mã số là 1234 trong mọi chi nhánh.

Trong khoảng thời gian đó, dự án cài đặt SAP cũng gặp phải vấn đề Y2K. Với việc sử dụng chung một phần mềm chuẩn, ban lãnh dọa công ty hy vọng tránh được vấn đề Y2K, sẽ xảy ra sau ngày 31.12.1999. Thật không may, điều này đặt ra yêu cầu toàn bộ quá trình implement phải hoàn thành trước ngày 1.1.2000.

Khi các ứng dụng SAP được triển khai trên các chi nhánh, nhóm quản lý chuyên trách đã nhận được nhiều lời phàn nàn. Jeri Dunn, VP và CIO của Nestle USA sau đó giải thích rằng họ đã đánh giá thấp các vấn đề liên quan đến văn hóa riêng, và các quy trình nghiệp vụ đã được thiếp lập. Đến trước năm 2000, việc triển khai đã gặp phải vấn đề nghiêm trọng. Những người lao động đã không hiểu các modules mới của SAP và họ cũng không hiểu SAP sẽ giúp họ được gì trong công việc và quản lý các quy trình mà họ đảm nhận.

Trong một hội nghị đầu năm 2000, Dunn đã được trao trách nhiệm dự án SAP. Có nhiều kết luận được đưa ra, nhưng mọi người đã bỏ qua vấn đề Y2K. Vì thế, mọi người đã hiểu được yêu cầu của việc triển khai các module SAP và sau đó lấy yêu cầu đó để làm kế hoạch triển khai dự án. Họ quyết kết luận rằng việc cài đặt các modules của SAP rất dễ, nhưng việc thay đổi các quy trình nghiệp vụ và để có được sự chấp nhận từ những người có trách nhiệm đảm bảo cho các quy trình đó được vận hành đúng cách. Họ cũng thấy rằng cần phải cẩn thận xem xét việc các module SAP sẽ tương tác với các quy trình và ứng dụng khác, đó là công việc chưa được tính đến.

Tại thời điểm Dunn đảm nhận công việc, một người quản trị “Process of Change” đã được thuê và một người quản lý toàn bộ quy trình chuỗi cung ứng(VP) được đề xuất để giúp Dunn hoàn thành phần còn lại của dự án. Nhóm làm việc giờ đây bắt đầu tập trung vào mô hình hóa các quy trình và xác định yêu cầu của các quy trình sau đó lập kế hoạch để cài đặt các modules của SAP. Quá trình cài đặt đã bị trì hoãn nhiều tháng hay nhiều năm ở một vài nơi để giúp mọi người chuẩn bị cho sự thay đổi bắt buộc trong các quy trình. Tuy nhiên đến năm 2002 thì công việc đã bước vào giai đoạn hoàn tất. Công ty đã sử dụng khoảng $200 triệu cho quá trình chuyển đổi. Dunn cho rằng dự án đã tự trả phí cho chính nó. Các quy trình lập kế hoạch mới, ví dụ, cho phép các kế hoạch Nestle USA có thể đạt được độ chính xác cao hơn và tiết kiệm đáng kể chi phí kho bãi, giao vận. Phó giám đốc chỗi cung ứng của Nestle USA, Dick Ramage, cho rằng chuỗi cung ứng của họ đã được cải thiện và có thể tiết kiệm cho Nestle một khoản lên đến $325 triệu USD và thành quả đó chính là nhờ ứng dụng SAP.

Dunn nói rằng cô rất hài lòng với các ứng dụng SAP và rất vui khi tất cả các công ty con của Nestle cơ bản đều sử dụng một quy trình chung. Cũng trong một bài báo trên tạp chí CIO tháng 5 năm 2002, Dunn cho rằng nếu như phải làm lại từ đầu, có lẽ việc đầu tiên bà làm là chuẩn hóa các quy trình nghiệp vụ và các khoản mua vào(buy-in – ai biết từ này thì pm nhá) rồi sau đó chỉ việc cài đặt phần mềm.

Việc sử dụng ứng dụng ERP ở Nestle USA và vấn đề của họ là những vấn đề chung thường gặp ở các công ty lớn đã từng ứng dụng ERP. Các công ty sử dụng ERP để mong muốn nó có thể chuẩn hóa ứng dụng phần mềm và cơ sở dữ liệu của các chi nhánh và các bộ phận. Hầu hết các công ty lớn đều bắt đầu với theo con đường hy vọng đó và sau đó, họ phát hiện ra quá trình thực hiện dài hơn và khó khăn hơn là họ mong muốn. Một số ít đã hoàn tất chuyển qua ERP. Vấn đề nằm ở chỗ các ứng dụng ERP không phải là giải pháp . Chúng là công cụ để thay đổi quy trình nghiệp vụ. Đó không phải là thứ mà đội ngũ IT có thể tự làm. Quá trình chuyển đổi phải được nhận thức như là một quá trình chuyển đổi quy trình nghiệp vụ và được sự chỉ đạo của các cá nhân cấp quản lý. Ứng dụng ERP phải được cài đặt như là một phần của toàn bộ nỗ lực chuyển đổi quy trình nghiệp vụ, không phải là một bước độc lập. Sử dụng các ứng dụng ERP đúng đắn sẽ là công cụ to lớn trong việc thay đổi quy trình nghiệp vụ.

 

Ghi chú

Quy trình nghiệp vụ: Business process

Advertisements

Comments on: "SAP Case Study: Nestle USA" (2)

  1. xin loi, anh (chi) co the cho em hoi modules la gi vay a?

    • Chao ban,

      Ban doc them ve SAP explained trong blog nay nhe. Trong do co giai thich module la gi, component, application la gi.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: